Tại Hội thảo khoa học quốc gia “Công nghệ lượng tử trong kỷ nguyên mới: Xu hướng quốc tế, cơ hội và yêu cầu đặt ra cho Việt Nam” diễn ra ngày 19/6/2026, các nhà khoa học, chuyên gia và nhà quản lý đã cùng thảo luận về định hướng phát triển công nghệ lượng tử tại Việt Nam. Trong khuôn khổ Hội thảo, ĐHQG-HCM đã đề xuất mô hình mạng lưới chiến lược “Hub-and-Nodes” nhằm điều phối nguồn lực quốc gia, từng bước xây dựng năng lực lượng tử nội sinh, bảo vệ chủ quyền dữ liệu và nâng cao năng lực cạnh tranh công nghệ của đất nước.

Hội thảo khoa học quốc gia “Công nghệ lượng tử trong kỷ nguyên mới: Xu hướng quốc tế, cơ hội và yêu cầu đặt ra cho Việt Nam” diễn ra ngày 19/6/2026, quy tụ nhiều chuyên gia, nhà khoa học.

Công nghệ lượng tử là bài toán về năng lực quốc gia

Phát biểu khai mạc Hội thảo, GS.TS Nguyễn Thị Thanh Mai, Giám đốc ĐHQG-HCM cho rằng thế giới đang chứng kiến sự dịch chuyển từ làn sóng phát triển trí tuệ nhân tạo sang cuộc đua công nghệ lượng tử – lĩnh vực được kỳ vọng tạo ra những năng lực hoàn toàn mới về tính toán, mô phỏng, bảo mật, truyền thông, cảm biến và đo lường chính xác. Theo đó, công nghệ lượng tử không còn đơn thuần là một hướng nghiên cứu khoa học mà đang trở thành năng lực công nghệ chiến lược có tác động sâu sắc đến an ninh, kinh tế, khoa học và năng lực cạnh tranh quốc gia.

GS.TS Nguyễn Thị Thanh Mai nhấn mạnh: “Câu hỏi lớn nhất không còn là công nghệ lượng tử có nên là một ưu tiên hay không, mà là làm thế nào để Việt Nam có đủ tốc độ, đủ nền tảng và đủ năng lực tự chủ để từng bước làm chủ công nghệ này, hạn chế sự phụ thuộc vào bên ngoài và tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị công nghệ chiến lược của thế giới”.

GS.TS Nguyễn Thị Thanh Mai phát biểu khai mạc Hội thảo, nhấn mạnh vai trò của công nghệ lượng tử trong bối cảnh mới.

Từ thực tiễn phát triển đất nước và tinh thần của Nghị quyết số 57-NQ/TW, Giám đốc ĐHQG-HCM đề xuất ba định hướng trọng tâm để Việt Nam từng bước hình thành năng lực lượng tử quốc gia. Thứ nhất, phải bắt đầu từ phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, xây dựng đội ngũ chuyên gia trẻ có nền tảng liên ngành và tăng cường thu hút các nhà khoa học Việt Nam ở nước ngoài tham gia đào tạo, nghiên cứu. Thứ hai, cần lựa chọn đúng các bài toán trọng điểm để tập trung nguồn lực, đặc biệt là an toàn thông tin hậu lượng tử nhằm bảo vệ chủ quyền số quốc gia, đồng thời thúc đẩy các ứng dụng trong mô phỏng vật liệu, dược phẩm, năng lượng sạch, logistics, giao thông và đô thị thông minh. Thứ ba, cần xây dựng mô hình hợp tác bền vững giữa viện nghiên cứu, trường đại học, doanh nghiệp và cơ quan quản lý nhà nước để kết nối nghiên cứu cơ bản với nhu cầu thực tiễn, từng bước hình thành hệ sinh thái đổi mới sáng tạo trong lĩnh vực lượng tử.

Trong phát biểu đề dẫn tại Hội thảo, GS.TS Trần Hồng Thái, Chủ tịch Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam nhấn mạnh công nghệ lượng tử đang trở thành một trong những công nghệ chiến lược có khả năng định hình năng lực cạnh tranh và chủ quyền công nghệ của các quốc gia trong kỷ nguyên số. Theo ông, Việt Nam cần sớm có sự chuẩn bị bài bản cho lĩnh vực này bởi ba lý do chính. Trước hết, sự phát triển của máy tính lượng tử có thể làm suy giảm hiệu quả của nhiều hệ mật mã hiện nay, đặt ra nguy cơ đối với an toàn thông tin và bảo mật dữ liệu quốc gia. Bên cạnh đó, công nghệ lượng tử là công nghệ lưỡng dụng, có ý nghĩa chiến lược đối với quốc phòng, an ninh, kinh tế số và năng lực cạnh tranh quốc gia. Đồng thời, trong bối cảnh nhiều cường quốc và nền kinh tế lớn đang đẩy mạnh đầu tư và triển khai các chương trình phát triển công nghệ lượng tử, Việt Nam cần chủ động tham gia cuộc đua này để không bỏ lỡ cơ hội xây dựng năng lực công nghệ mới và gia tăng vị thế trong chuỗi giá trị toàn cầu.

GS.TS Trần Hồng Thái cho rằng phát triển công nghệ lượng tử không thể theo tư duy ngắn hạn hay dựa vào các nhóm nghiên cứu đơn lẻ mà cần một hệ sinh thái hoàn chỉnh.

GS.TS Trần Hồng Thái cho rằng phát triển công nghệ lượng tử không thể theo tư duy ngắn hạn hay dựa vào các nhóm nghiên cứu đơn lẻ mà cần một hệ sinh thái hoàn chỉnh gồm nghiên cứu cơ bản mạnh, nguồn nhân lực chất lượng cao, hạ tầng nghiên cứu hiện đại, doanh nghiệp công nghệ tham gia từ sớm cùng cơ chế hợp tác quốc tế và đầu tư dài hạn. Ông khẳng định Việt Nam cần phát triển công nghệ lượng tử theo tinh thần “đi sớm về nhận thức, đi chắc về nền tảng và đi đúng vào những khâu có thể tạo ra năng lực thật, giá trị thật”.

Đề xuất mô hình Hub-and-Nodes phát triển hệ sinh thái lượng tử quốc gia

Qua các tham luận và thảo luận tại Hội thảo, các chuyên gia thống nhất rằng công nghệ lượng tử không chỉ gói gọn trong máy tính lượng tử mà là một hệ sinh thái công nghệ rộng lớn, bao gồm mật mã hậu lượng tử, truyền thông an toàn, cảm biến và đo lường chính xác, quang tử, vật liệu, thuật toán, phần mềm, mô phỏng khoa học và nguồn nhân lực liên ngành.

Đánh giá về thực trạng phát triển lĩnh vực này tại Việt Nam, TS Nguyễn Quốc Hưng, Viện trưởng Viện Công nghệ lượng tử (ĐHQG Hà Nội), cho rằng nước ta vẫn đang đối mặt với nhiều thách thức như thiếu nguồn nhân lực chất lượng cao, hạ tầng nghiên cứu còn hạn chế, khả năng tiếp cận công nghệ quốc tế chưa cao và chưa có cơ chế điều phối thống nhất ở cấp quốc gia. Vì vậy, Việt Nam cần sớm xây dựng chiến lược phát triển tổng thể, đầu tư cho đào tạo nhân lực và tham gia có chọn lọc vào chuỗi giá trị lượng tử toàn cầu.

Các chuyên gia thống nhất rằng công nghệ lượng tử không chỉ gói gọn trong máy tính lượng tử mà là một hệ sinh thái công nghệ rộng lớn.

Các đại biểu cũng nhận định cần chuyển từ cách tiếp cận nghiên cứu hàn lâm đơn lẻ sang xây dựng năng lực quốc gia, gắn nghiên cứu với nhu cầu công nghiệp, chuỗi cung ứng và thương mại hóa công nghệ. Trong bối cảnh công nghệ lượng tử phát triển nhanh, những rủi ro liên quan đến an toàn thông tin và bảo vệ dữ liệu quốc gia đang trở thành thách thức cấp thiết. Đồng thời, lĩnh vực này cũng mở ra nhiều cơ hội ứng dụng trong cảm biến, đo lường chính xác, mô phỏng vật liệu, hóa học lượng tử, tối ưu hóa, quang tử và phát triển vật liệu tiên tiến.

Chia sẻ về hiện trạng nghiên cứu và đào tạo tại ĐHQG-HCM, TS Trần Nguyên Lân, Trường ĐH Khoa học tự nhiên, cho biết hệ thống ĐHQG-HCM đã từng bước hình thành nền tảng nghiên cứu đa ngành với các nhóm nghiên cứu về tính toán lượng tử, bảo mật lượng tử và vật liệu lượng tử, đồng thời triển khai các hoạt động đào tạo liên quan, tạo tiền đề cho việc phát triển nguồn nhân lực trong lĩnh vực công nghệ chiến lược này.

Điểm nhấn đáng chú ý của Hội thảo là việc ĐHQG-HCM đề xuất khung kiến trúc chiến lược mạng lưới “Hub-and-Nodes” giai đoạn 2026-2045. Theo đề xuất này, một Trung tâm Quốc gia sẽ đóng vai trò điều phối chung (Hub), kết nối và phân bổ nguồn lực cho năm hạt nhân chuyên trách (Nodes) gồm Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, ĐHQG Hà Nội, ĐHQG-HCM và Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam. Mô hình được kỳ vọng sẽ tạo ra đầu mối điều phối thống nhất ở cấp quốc gia, khắc phục tình trạng phân tán nguồn lực, thúc đẩy chia sẻ hạ tầng nghiên cứu, tăng cường phối hợp liên ngành và kết nối chặt chẽ giữa đào tạo, nghiên cứu với nhu cầu ứng dụng thực tiễn.

TS Trần Nguyên Lân cho biết hệ thống ĐHQG-HCM đã từng bước hình thành nền tảng nghiên cứu đa ngành với các nhóm nghiên cứu về tính toán lượng tử, bảo mật lượng tử và vật liệu lượng tử.

Bên cạnh đó, Hội thảo cũng đề xuất nhiều giải pháp nhằm hoàn thiện khung thể chế cho phát triển công nghệ lượng tử như xây dựng cơ chế thử nghiệm chính sách (sandbox), đổi mới phương thức cấp kinh phí nghiên cứu theo hướng hỗ trợ vận hành và khai thác hạ tầng nghiên cứu lâu dài, đồng thời áp dụng mô hình quản trị rủi ro khoa học theo phương thức “Stage-Gate” để đánh giá hiệu quả các dự án theo từng giai đoạn.

Thông qua Hội thảo, ĐHQG-HCM cùng các đơn vị nòng cốt tái khẳng định cam kết đồng hành cùng Chính phủ trong xây dựng năng lực lượng tử quốc gia, phát triển nguồn nhân lực liên ngành chất lượng cao, bảo vệ chủ quyền dữ liệu và từng bước đưa công nghệ lượng tử từ phòng thí nghiệm trở thành động lực mới cho tăng trưởng kinh tế – xã hội của đất nước.